Chuyên mục: Uncategorized

  • VỌNG NHẠC

    “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên

    Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

    Phi lưu trực hạ tam thiên xích

    Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên” 

    Lý Bạch viết những dòng thơ miêu tả cảnh hùng vĩ của Lư Sơn trong “Vọng Lư sơn bộc bố” mà nếu có dịp ghé thăm nơi này, bạn sẽ thấy ông không hề nói quá:

    “Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước,

    Ngỡ dải Ngân Hà tuột khỏi mây.”

    Khung cảnh hùng vĩ của Lư Sơn đi vào thi ca rất nhiều, thời nào cũng có, nổi tiếng có thể kể đến thi sĩ Tô Đông Pha thời Tống, cách Lý Bạch mấy trăm năm cũng có bài Đề Tây Lâm Bích:

    “Hoành khan thành lĩnh trắc thành phong

    Viễn cận cao đê các bất đồng

    Bất thức Lư Sơn chân diện mục

    Chỉ duyên thân tại thử sơn trung”

    “Nhìn ngang thành dãy, nghiêng thành đỉnh,

    Xa gần cao thấp chẳng giống nhau.

    Chẳng biết núi Lư hình dáng thực,

    Chỉ tại thân này giữa trong núi”

    So với thế giới quan ở tầm “meta vũ trụ” của Lý Bạch, Tô Đông Pha đem đến một góc nhìn nhân sinh hơn rất nhiều. Có lẽ những trải nghiệm quan trường khốc liệt đã giúp cho ông đặt chân mình xuống đất để nhận ra sự nhỏ bé cũng như giới hạn của tầm nhìn con người, nhất là khi đứng ở những vị trí khác nhau. Người đang ở trong cuộc chơi, hóa ra lại thường là người khó nhìn rõ chân tướng bản chất nhất.

    Đỗ Phủ tuy không viết về núi Lư, nhưng cũng có một bài thơ rất nổi tiếng nói về góc nhìn của chính bản thân mình với những ngọn núi, với hai câu cuối trong bài Vọng Nhạc:

    “Hội đương lăng tuyệt đỉnh,

    Nhất lãm chúng sơn tiểu.”

    “Được dịp lên đỉnh núi cao chót vót,

    Tất cả núi non xung quanh đều bé nhỏ.”

    Người ở trên cao thì nhìn cái gì cũng thấy bé nhỏ, bài thơ Vọng Nhạc được Đỗ Phủ viết thời trẻ, khi ông chưa trải qua những biến cố cuộc đời, chưa chứng kiến cơn bão táp của thời cuộc mang tên Loạn An Sử. Điều thú vị là Vọng Nhạc là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, nhưng lại mang một sắc thái lạ lẫm đáng kinh ngạc so với phần lớn các tác phẩm khác của chính Đỗ Phủ, vốn giàu lòng thương cảm với nhân sinh và nặng nỗi xót xa trước thời cuộc. Vậy ra chỉ khi trải qua đau thương, người ta mới cảm được nỗi niềm của “những ngọn núi nhỏ”.

    Hồ Chí Minh cũng là một nhà thơ chữ Hán có ảnh hưởng lớn, với không ít bài thơ vịnh đề thiên nhiên hùng vĩ, qua đó cảm khái nỗi lòng, gửi gắm tâm tưởng, mà “Mới ra tù tập leo núi/Tân xuất ngục học đăng sơn)” là một đại diện tiêu biểu:

    “Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,

    Giang tâm như kính, tịnh vô trần.

    Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh,

    Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.”

    “Mây ôm núi, núi ôm mây,

    Lòng sông như gương, sạch bụi trần.

    Bồi hồi một mình bước trên đỉnh Tây Phong,

    Trông về trời Nam nhớ người xưa.”

    Trải qua biến cố và đau thương, cái còn đọng lại thường là sự thanh tịnh và hồi ức, người ta leo núi với hoài niệm, với nỗi bồi hồi nhớ về cố nhân phương Nam. Chắc hẳn trong lòng Người cũng đang tận hưởng vẻ đẹp của non sông, nhưng đó không còn là niềm hứng khởi ngất trời của tuổi trẻ, mà là sự điềm tĩnh của một người đã bước qua giông bão và đang trăn trở về con đường giải phóng quê hương.

    Bốn góc nhìn như bốn giai đoạn khác nhau của đời người. Lý Bạch đứng trước thiên nhiên và ngẩng đầu nhìn về vũ trụ. Đỗ Phủ thời trẻ đứng trên đỉnh cao mà nuôi chí lớn. Tô Đông Pha sau bao thăng trầm lại suy tư về giới hạn nhận thức của con người. Còn Bác Hồ, sau lao tù và biến cố, đứng giữa mây núi mà cảm khái cố hương.

    Cùng là ngọn núi, góc nhìn khác nhau. Núi vẫn là núi, chỉ có người là thay đổi theo năm tháng.

    Gần đây khi ông Tập Cận Bình tiếp Thủ tướng Anh, ông có nhắc đến câu chuyện ngụ ngôn “盲人摸象” – người mù xem voi, một phiên bản rất giống với câu chuyện Thầy bói xem voi ở Việt Nam. Có lẽ ông cũng muốn nói đến giới hạn của góc nhìn: chỉ cần đứng sai vị trí một chút, nhận thức có thể bị bóp méo, tư duy có thể lệch lạc, và những điều tưởng như hiển nhiên lại chưa chắc phản ánh đúng thực tế khách quan.

    Có lẽ vì vậy mà càng đi nhiều, đọc nhiều và trải nghiệm nhiều, người ta càng bớt khẳng định mình đúng tuyệt đối. Thế giới vốn rộng lớn hơn những gì mắt ta nhìn thấy, và chân tướng của sự vật thường phức tạp hơn rất nhiều so với góc nhìn của bất kỳ một cá nhân nào.

    Biết mình đang đứng ở đâu trên ngọn núi của cuộc đời, đôi khi còn quan trọng hơn việc cố gắng chứng minh rằng mình đang nhìn thấy toàn bộ ngọn núi.

  • QUÂN TỬ HÒA NHI BẤT ĐỒNG

    Bộ truyện tranh 7 viên ngọc rồng thì chắc ai cũng biết, thế nhưng bộ truyện ấy ngày nay vẫn còn đang tiếp diễn và chưa có dấu hiệu kết thúc thì chắc ở tầm tuổi này ít ai còn để ý. Cái hay của nó (và cũng là cái dở) là sự thăng tiến không ngừng nghỉ của các cấp bậc sức mạnh, nếu ngày xưa lên được Super Saiyan (cái biến hình tóc vàng dựng dựng) là đã ghê gớm lắm rồi, thì về sau hết Super god, Super blue… cái sau mạnh hơn cái trước khiến người ta cảm thấy… bão hòa sức mạnh.
    Thế nhưng hai trạng thái cuối cùng đến thời điểm hiện tại của 2 nhân vật chính Goku và Vegetta (xưa truyện dịch gọi là Ca Đích) thì lại rất “giàu giá trị nhân sinh”. Chuyện là anh Goku lên cấp max thì đạt trạng thái gọi là Ultra Instinct (bản năng vô cực), ở bản năng này anh… siêu né đòn, cơ thể thả lỏng, thuận theo thế mà phiêu, mà bay. Ngược lại, anh Vegetta thì lại phát triển trạng thái gọi là Ultra Ego (cái tôi vô hạn), ở trạng thái này anh tiến lên nhờ nỗi đau cùng cực, càng chịu đòn lại càng mạnh lên (tât nhiên là nếu chịu nhiều quá thì vẫn ngỏm, nhưng giới hạn là vô cùng lớn). Dù phát triển theo 2 hướng khác nhau, Goku và Vegetta vẫn luôn ngang tài ngang sức.

    Tôi không có thời gian theo dõi toàn bộ mạch truyện từ sau thời thơ ấu, nhưng khi biết đến cách tác giả phát triển sức mạnh nhân vật theo 2 hướng này, tôi cảm thấy rất thú vị vì khả năng lồng ghép màu sắc cuộc sống, và đâu đó là cả tinh thần đạo học phương đông vào trong mạch truyện. Trong trạng thái Ultra Instinct, tôi nhìn thấy tinh thần Đạo đức Lão Trang, với trạng thái vô vi, thuận theo tự nhiên, đưa mọi thứ trở về với “phác”, từ đó mà đạt được sức mạnh trác tuyệt. Ngược lại, Ultra Ego mang hình dáng của Pháp trị, là kỷ luật, khắc nghiệt, là phần thưởng đi kèm hình phạt, là gian khổ để đạt được thành công.

    Những cặp đối lập như vậy có thể được nhìn thấy ở bất cứ đâu, Apple với Samsung, Android với IOS, ChatGPT nghiêm túc/nặng kiểm duyệt với Grok hài hước/tự do, CR7 tinh thần kỷ luật khắc nghiệt với Messi bản năng thiên tài bẩm sinh… họ đấu tranh, nhưng cũng hòa vào nhau để cùng tồn tại và làm động lực phát triển, cũng như Goku chỉ có thể nỗ lực vươn lên bởi vì luôn có Vegetta so kè từng giờ từng phút.

    Quân tử hòa nhi bất đồng là một câu trích trong sách Luận ngữ – một trong bốn tác phẩm quan trọng nhất của Nho học, nó nói về trạng thái hòa hợp của người quân tử lại chính là khi tranh luận, bảo vệ quan điểm và chính kiến của mình (và cũng là cho đối phương cơ hội được làm điều tương tự). Ngược lại, tiểu nhân đồng nhi bất hòa, là khi người ta cố tỏ ra hòa thuận, nhưng thực ra nghi kỵ bên trong, thiếu niềm tin vào đối phương (và cũng thiếu cả niềm tin vào chính mình). Thực ra mình luôn cho rằng, tiểu nhân hay quân tử không ám chỉ những con người cụ thể mà là trạng thái tinh thần, trí tuệ của từng người qua mỗi giai đoạn.
    Người Việt Nam mình, sinh ra trong văn minh lúa nước(chữ hòa 和 thực ra cũng có hình ảnh cây lúa), có xu hướng chấp nhận và tìm cách hòa hợp với môi trường xung quanh thay vì cải tạo, có vẻ hợp với tinh thần “Ultra Instinct” ở trên. Hiểu được và vận dụng được sức mạnh của sự hòa hợp, của việc tôn trọng khác biệt, thực ra vừa dễ (vì đó là căn tính người Việt)… lại vừa rất khó (trong bối cảnh môi trường cạnh tranh cao độ) . Có lẽ điều đáng quý nhất không nằm ở việc chọn Ultra Instinct hay Ultra Ego, mà là hiểu được khi nào nên thuận theo dòng chảy, khi nào nên nghiến răng tiến lên. Giống như quân tử hòa nhi bất đồng, mạnh mẽ không phải để triệt tiêu đối lập, mà để cùng nhau tạo nên thế cân bằng – nơi khác biệt trở thành động lực chứ không phải mâu thuẫn.

  • NINH TĨNH TRÍ VIỄN

    Tôi có cái tính rất xấu khi lái xe là cái máu ăn thua.

    Bởi cái tật xấu ấy nên khi có xe khác tạt đầu, đi chậm hay lơ đễnh 1 chút là tôi nổi cái máu xấu của mình lên, phải vượt bằng được nó.

    Nhiều lần như thế, và cũng rất nhiều lần cái xe “đối thủ” nó… rẽ đi hướng khác khi tôi chưa kịp vượt, và cảm giác của tôi là… chưng hửng 😭 để rồi chợt nhận ra điều tôi vừa theo đuổi nó… chẳng liên quan đến cuộc đời mình.

    Ninh tĩnh trí viễn là một câu trong sách Hoài Nam Tử, sau được Gia Cát Lượng trích dẫn trong bức thư gửi con trai mà có lần tôi đã post toàn văn. Nó khuyên răn con người giữ gìn tâm thân an định, từ đó rèn luyện ý chí, tinh thần, trí huệ và thân tâm.

    “Tĩnh” là trạng thái tập trung tinh lực hướng đến khả năng quan sát, nhận định, bóc tách những yếu tố gây nhiễu để nhìn nhận đúng đắn bản chất sự việc. Tĩnh không có nghĩa là không làm gì, tĩnh hướng đến tối ưu các yếu tố nội tại nhằm đạt được mục tiêu thay vì hướng đến ngoại cảnh khiến cho thân tâm phân tán. Nói thì dễ, nhưng năng lực duy trì cái “tĩnh” thực ra khó hơn nhiều, nhất là khi ngoại cảnh có nhiều biến động. Ta cứ tưởng tượng như khi bạn bè kiếm tiền hơn ta 1 chút, đồng nghiệp thăng tiến, tăng lương trước, thằng em ít tuổi hơn mới mua nhà còn mình vẫn phải đi thuê, lòng ta khó mà duy trì sự an yên được. Tĩnh còn khó gấp bội khi ta trải qua nghịch cảnh, kinh tế khó khăn, môi trường công việc biến động, gia đình có khúc mắc… dễ khiến ta vội vàng đưa ra những quyết định không đúng đắn.

    Sách “Đại học” trong Tứ thư nói về bát mục – Cách vật – Trí tri – Thành ý – Chính tâm – Tu thân – Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ, nhưng  ta thường chỉ nhớ 4 vế cuối, thậm chí tuyệt nhiên chẳng nhắc đến làm sao để “cách vật trí tri”.

    Hơn bất cứ một năng lực nào, tĩnh cần rèn giũa, cần trau dồi, cần “niệm” hàng ngày, nó thật sự là thứ người ta nên hướng đến chứ không nên kì vọng đạt được.

    Trong chữ tĩnh 静 có 2 phần, phần đầu là chữ thanh 青 mang ý nghĩa về trạng thái đẹp đẽ nhất của sự vật, còn phần sau lại giống chữ… tranh 争 (trong tranh luận). Dù 青 chủ yếu là phần biểu âm của chữ, cộng với chữ Hán biến đổi quá nhiều nên tôi không rõ người xưa có cố tình cài cắm ý tứ sâu xa không, nhưng rõ ràng ta thấy nếu luận giải theo cách chiết tự này, chữ tĩnh mang một nội hàm sức mạnh hết sức to lớn và cũng hơi gợn chút trái khoáy hài hước

    Trên tường góc làm việc của tôi treo 2 bức tranh, một bức đề câu đối tôi tự sáng tác (bức còn lại có dịp sẽ giới thiệu sau), xin gửi đây mời các bạn chiêm khảo:

    “Tĩnh quan vạn tượng vô thanh xứ – Tự hữu càn khôn tự tại tâm”

    Cũng mong cho tinh thần long mã, một năm 2026 lấy tĩnh chế động, lấy tĩnh quan chế càn khôn 🧐

  • Thái mộng – 彩梦

    青丝成花雪

    竹马化松云

    秋风过彩梦

    桃花经飘飘

    Thanh ti thành hoa tuyết

    Trúc mã hoá tùng vân

    Thu phong qua thái mộng

    Đào hoa khinh phiêu phiêu.

  • Ông nội

    Thuở bế bồng nhong nhong ngựa gỗ,

    Giấc trưa hè nồng bức oi oi, 

    Ông cõng con tựa đầu vai tóc trắng,

    Tấm lưng cong ngỡ chiếc phản con nằm.

    Con nhớ mãi cây nhãn cây thiều,

    Mỗi độ vào hè ăn hoài chẳng hết,

    Con nhớ mãi ngày phơi thuốc phơi thang,

    Quả táo tàu con nhón chân ăn vụng. 

    Con nhớ khi con học vỡ lòng,

    Tím mực đầy tay ông cạo mực cho con,

    Nhớ ông cười bênh con khi phạm lỗi,

    Nhưng lại dặn dò con phải sửa chính tâm.

    Ngày ông đau con còn chưa hiểu chuyện,

    Chưa biết rồi sẽ đến lúc phải chia xa,

    Thơ ông viết con thuộc mà chẳng hiểu,

    Tiếng ông đâu rồi sao con gọi chẳng nghe.

    Tháng năm dài con lớn con khôn,

    Nghĩ chuyện đời nhân sinh lão bệnh,

    Tưởng về ông một lòng tâm kính,

    Thắp nén hương trầm con nhớ ông con.

  • Đầm Thị Nại

    Lồng lộng bay chiếc cầu dài vượt bể,

    Ánh sóng dập dìu nắng bạc chiếu sương xa,

    Cảnh mây trời vần vũ phong ba,

    Mộng anh hùng cũng tan thành bèo bọt.

    Đây trống chiêng cờ xí rợp trời, 

    Kia đoàn chiến hạm nối nhau ra trận,

    Ầm ầm sóng lớn reo hò như sấm dậy,

    Một trận cuồng phong cuốn sạch bay cơ đồ.

    Bão lửa giận dữ, thiêu trời Thị Nại,

    Gỗ xác tàu, gươm gãy, máu loang dòng,

    Tiếng hò reo hoà cùng pháo gầm thét,

    Một dải sóng xanh hóa đỏ máu hồng.

    Mênh mang trôi chuyện thành bại đúng sai,

    Ánh tà dương chôn vùi bao ký ức,

    Người đánh cá ca khúc nhạc vĩ thanh,

    Tưởng nghe thấy tiếng lòng đang hồi ức.

  • Thăm Đền Đô

    Vãn cảnh đền nhớ chuyện vua xưa,

    Bát đế vân du long phượng sum vầy,

    Chiêu nữ đế khóc thầm thế sự,

    Giang sơn nào nỡ trách đời nữ nhi.

    Hàng cổ thụ vẫn nghiêng chầu sân trước,

    Kinh lý qua bao cuộc bể dâu,

    Bận lòng chi một phút u sầu,

    Dòng thế sự chẳng bao giờ ngoảnh lại.

    Chuyện xưa nay dẫu thường vẫn vậy,

    Chỉ bia đá này cùng tuế nguyệt trơ gan,

    Thương nhớ chăng một thuở huy hoàng,

    Vén vầng mây mặt trời vẫn hừng sáng.

  • Lộng ngôn – 弄言

    Quản Nhạc tại tâm, Hàn tại trí,

    Ngôn trung lưu thủy ý cao sơn,

    Tung hoành liên hợp phong trần lộ,

    Lai đáo cố hương khốc vô thường.

    管乐在心韩在智,

    言中流水意高山。

    纵横联合风尘路,

    来到故乡哭无常.

  • Chiếc giày búp bê 

    Anh đợi em đường tàu ngã bốn,

    Giày búp bê hoa nắng lung linh,

    Tóc thơm bay ngạt ngào hương phố,

    Mắt cười nghiêng khẽ chạm môi mềm

    Anh đợi em đường tàu ngã bốn,

    Tiếng chổi tre hàng phố xôn xao,

    Ánh chiều vàng vắt ngang nỗi nhớ,

    Đèn hắt hiu buồn trải miên man.

    Em đợi ai đường tàu ngã bốn,

    Chiếc giày xưa nhẹ bước tim tôi,

    Hoài niệm cũ in hằn góc phố,

    Bóng hình ai tôi mãi đi tìm.

    (Tặng MĐT)

  • Tứ khúc – 四曲

    Nhất độ tây lưu cô ảnh vong,
    Nhị kỳ đắc ý thân hỏa hồng.
    Tam niên tâm tại phi thường vọng,
    Tứ quý tài danh tưởng như không.

    一度西流孤影忘
    二期得意身火红
    三年心在非常望
    四季才名想如空